NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU PHAO ĐỤC BẸ (SÂU PHAO MỚI) HẠI LÚA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - PDF

Description
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU PHAO ĐỤC BẸ (SÂU PHAO MỚI) HẠI LÚA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Nguyễn Thị Lộc, Võ Thị Bích Chi, Trần Thị Bé Hồng, Nguyễn Thị Nhàn, Nguyễn Thị Phương Chi

Please download to get full document.

View again

of 9
All materials on our website are shared by users. If you have any questions about copyright issues, please report us to resolve them. We are always happy to assist you.
Information
Category:

Law

Publish on:

Views: 25 | Pages: 9

Extension: PDF | Download: 0

Share
Transcript
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU PHAO ĐỤC BẸ (SÂU PHAO MỚI) HẠI LÚA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Nguyễn Thị Lộc, Võ Thị Bích Chi, Trần Thị Bé Hồng, Nguyễn Thị Nhàn, Nguyễn Thị Phương Chi và Nguyễn Thị Nghĩa Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long SUMMARY Research on process of integrated management to new caseworm attacking rice in the Mekong Delta In order to study on process of Integrated Management to new caseworm attacking rice in the Mekong Delta, this project was conducted from 2009 to 2011 at Cuu Long Delta Rice Research Institute. The results showed that OM 1490 variety had the highest damaged ratio to tillers; DS 20 variety had the lowest damaged ratio to tillers and the second lowest damaged ratio to tillers belonged to OM 6162 variety. Controlling the water depth at 1/6 plant height could reduce the population of new caseworm and the ratio of damaged tiller in comparison with that at 1/3 and 1/2 plant height. With the water depth at 1/3 plant height, the different proportions of nitrogen fertilizer affected the damage of this caseworm in the field. The new caseworms appeared and damaged transplanting rice earlier and heavier than on sowing rice. However, different space rows and plant distances in transplanting method and different seeding rate did not affect the damage of new caseworm in the field. Two biochemical-insecticides, such as Vertimec 1,8EC and Silsau 1,8EC, had relatively high efficacy on new caseworm. The Kinalux 25EC insecticide had the highest efficiency on new caseworm, followed by Megashield 525EC and Regent 800WG, which also had relatively high effectiveness. Using Kinalux 25EC insecticide to control new caseworm had more affected natural enemies of rice pests than using Waba 5.55EC biochemicalinsecticide. The model field applied process of Integrated Management to new caseworm has restricted the population of new caseworm, decreased the ratio of damaged tiller, reduced the production costs and increased the profit by 15.7 % in Dry season and 20.9 % in Wet season 2011 compared with the farmers control field as well as protected the environment and human health. Keywords: Caseworm; Rice, management, Cuulong delta. I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Sâu phao đục bẹ (SPĐB) còn gọi là sâu phao mới được phát hiện đầu tiên trên ruộng lúa vụ Hè Thu 1998 tại Sóc Trăng và Tiền Giang. Đến năm 1999 loài sâu này gây hại trên ruộng lúa tại tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long và Đồng Tháp (TT BVTVPN, 2000). Từ năm 2000 trở đi thì hầu hết đồng ruộng của các tỉnh phía Nam đều thấy có sự xuất hiện của đối tượng gây hại mới này trên cả vụ Hè Thu và Đông Xuân với mức độ ngày càng gia tăng (TT BVTVPN, 2002). Năm 2003, Nguyễn Văn Liêm đã nghiên cứu, khảo sát các đặc tính sinh học, cách gây hại và biện pháp phòng trừ loài sâu phao mới hại lúa này tại Vĩnh Long. Tuy nhiên, chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về các biện pháp quản lý sâu phao đục bẹ hại lúa mà chỉ có những khuyến cáo chủ yếu là khống chế mực nước, sử dụng thuốc hóa Người phản biện: TS. Ngô Lực Cường. học để phòng trừ. Do đó đề tài Nghiên cứu xây dựng quy trình quản lý tổng hợp đối với sâu phao đục bẹ hại lúa tại đồng bằng sông Cửu Long đã được thực hiện từ tháng 1/2009 đến 12/2011 với mục tiêu chính là đề xuất quy trình quản lý tổng hợp đối với sâu phao đục bẹ hại lúa nhằm khống chế sự gây hại của loài sâu phao mới, cải thiện năng suất lúa, tăng thu nhập cho người nông dân, đồng thời góp phần duy trì một nền nông nghiệp bền vững tại đồng bằng sông Cửu Long. II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Vật liệu - Đối tượng nghiên cứu: Sâu phao đục bẹ hại lúa. - Địa điểm nghiên cứu: Các thí nghiệm được thực hiện tại lô 3 thí nghiệm, mô hình được thực hiện tại lô 4B và 14B sản xuất - Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long. 976 Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm Vật liệu (giống, phân, thuốc...): + Giống lúa sử dụng trong các thí nghiệm là OM Các giống lúa sử dụng trong thí nghiệm ảnh hưởng của giống lúa đối với SPĐB là: OM1490, Tài nguyên đột biến, OM4498, OM2517, OM2395, OM576, Jasmine 85, OM6162,... + Công thức phân bón của thí nghiệm: kg (N - P 2 O 5 - K 2 O)/ha đối với vụ Hè Thu và kg (N - P 2 O 5 - K 2 O)/ha đối với vụ Đông Xuân. + Các loại thuốc sinh học (sản xuất từ nấm trắng Beauveria bassiana và nấm xanh Metarhizium anisopliae) được sử dụng trong thí nghiệm: Ometar, Biovip, Cộng hợp vi sinh 16 BTN, Trắng xanh. + Các loại thuốc hoá sinh (có nguồn gốc từ Abamectin) được sử dụng trong thí nghiệm: Vertimec 1,8EC, Silsau 1,8EC, Aztron Bt.Adf, Waba 5,55EC, Reasgant 1,8EC. + Các loại thuốc hoá học được sử dụng trong thí nghiệm: Kinalux 25EC, Megashield 525EC, Emecide 105EC, Arrivo 25EC, Diazan 40EC, Peran 50EC, Regent 800WG, Fastac 5EC Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu, thử nghiệm riêng lẻ các biện pháp trong quy trình phòng trừ tổng hợp sâu phao đục bẹ hại lúa (giống lúa, mực nước ruộng, mức phân bón, phương pháp sạ cấy và mật độ sạ cấy, phương pháp sinh học, hóa học...) - Các thí nghiệm được thực hiện ở vụ Hè Thu 2009, Đông Xuân và Hè Thu Ngoại trừ thí nghiệm ảnh hưởng của phương pháp sạ cấy và mật độ sạ cấy đến sâu phao đục bẹ thì các thí nghiệm còn được áp dụng phương pháp cấy với khoảng cách 15 20cm nhằm tạo điều kiện tối đa cho sâu đục bẹ phát triển để tiến hành thí nghiệm. - Các thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại với 7-8 công thức, diện tích ô thí nghiệm là 50m 2. Riêng đối với thí nghiệm ảnh hưởng của sự tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước khác nhau đối với sâu phao đục bẹ hại lúa được bố trí theo kiểu dãy lô phụ 2 nhân tố, 3 lần lặp lại, với nhân tố chính là các mức phân đạm và nhân tố phụ là các mực nước trên ruộng. - Thời điểm theo dõi: + Đối với các thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp canh tác đối với sâu phao đục bẹ: Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần mật số sâu phao đục bẹ và tỷ lệ hại bắt đầu vào thời điểm 10 ngày sau khi cấy. + Đối với các thí nghiệm đánh giá hiệu lực của thuốc đối với sâu phao đục bẹ: Theo dõi mật số sâu phao đục bẹ vào các thời điểm: Trước phun và 1, 3, 7, 10, 14 ngày sau khi phun. Ghi nhận tỷ lệ hại do sâu phao đục bẹ gây ra vào các thời điểm trước phun và 14 ngày sau khi phun. - Chỉ tiêu đánh giá: + Đối với sâu hại: Mỗi ô điều tra 5 điểm phân bố trên hai đường chéo góc, mỗi điểm là 1 khung có kích thước 0,4m 0,5m. Các điểm này cách xa bờ ít nhất là 1m. Trong khung đếm số sâu còn sống từ đó quy ra mật độ sâu con/m 2. + Đối với tỷ lệ hại: Theo dõi 5 điểm chéo góc trên ô, mỗi điểm 4 bụi lúa đối với lúa cấy và khung 20cm 20cm đối với lúa sạ, đếm số chồi bị hại và tổng số chồi. Tỷ lệ chồi bị hại được tính theo công thức: TLCBH (%) = (số chồi bị hại/tổng số chồi) Xử lý số liệu: + Hiệu lực của thuốc được tính theo công thức Henderson - Tilton + Số liệu nhập trên phần mềm MS Excel và phân tích bằng chương trình SAS Ứng dụng tổng hợp các biện pháp phòng trừ đã chọn lọc để xây dựng mô hình phòng trừ tổng hợp sâu phao đục bẹ có hiệu quả cao - Mô hình được thực hiện ở vụ Đông Xuân và Hè Thu Phương pháp thực hiện: Đắp bờ phân chia ruộng (diện tích 2ha) làm 2 phần: 1 phần (diện tích 1ha) thực hiện mô hình ứng dụng quy trình phòng trừ tổng hợp sâu phao đục bẹ hại lúa, 1 phần (diện tích 1ha) làm đối chứng ứng dụng các biện pháp canh tác theo tập quán của nông dân Trên ruộng mô hình áp dụng các biện pháp quản lý tổng hợp đối với sâu phao đục bẹ hại lúa - Giống lúa được sử dụng trong mô hình là OM6162, sạ hàng với mật độ 120 kg/ha. 977 - Khống chế mực nước ruộng ở mức 1/6 chiều cao cây lúa giai đoạn từ khi gieo sạ đến 45 NSS. - Bón phân theo công thức kg (N - P 2 O 5 - K 2 O)/ha ở vụ Đông Xuân và kg (N - P 2 O 5 - K 2 O)/ha ở vụ Hè Thu Phân bón được chia làm 3 lần bón: 10 NSS, 25 NSS và 45 NSS. - Phun thuốc hóa sinh (chứa hoạt chất Abamectin) để trừ sâu phao đục bẹ khi mật số sâu khoảng 10 con/m Trên ruộng đối chứng: canh tác theo tập quán của nông dân - Giống lúa được sử dụng ở ruộng đối chứng là OM6162, sạ hàng với mật độ 120 kg/ha. - Không điều chỉnh mực nước. - Bón phân theo công thức kg (N - P 2 O 5 - K 2 O)/ha ở vụ Đông Xuân và kg (N - P 2 O 5 - K 2 O)/ha ở vụ Hè Thu Phân bón được chia làm 3 lần bón: 10 NSS, 25 NSS và 45 NSS. - Phun thuốc hóa học Kinalux 25EC để trừ sâu phao đục bẹ khi mật số sâu khoảng 10 con/m Chỉ tiêu theo dõi - Điều tra định kỳ 7 ngày/1 lần về mật số sâu phao đục bẹ, số chồi bị hại và tổng số chồi quan sát và mật số thiên địch. - Thu năng suất trước khi thu hoạch. Thu 3 mẫu/ô, mỗi mẫu 10m 2 (5m 2m) Phân tích số liệu - Số liệu điều tra định kỳ về sâu hại và thiên địch được tính trung bình trên đơn vị diện tích 1 m 2 và phân tích bằng phần mềm MS Excel. Hiệu quả kinh tế được tính toán để so sánh giữa mô hình và đối chứng. III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Ảnh hưởng của các giống lúa khác nhau đối với sâu phao đục bẹ hại lúa Thí nghiệm đã được thực hiện trong vụ Hè Thu 2009 và Đông Xuân , kết quả đạt được cho thấy có sự gây hại sớm của sâu phao đục bẹ ở 7 NSC với tỷ lệ hại từ 0,53% đến 2,56%, tỷ lệ hại tăng dần đến 28 NSC và bắt đầu giảm ở 35 NSC (bảng 1). Ở 14 NSC, giống lúa OM1490 có tỷ lệ chồi bị hại do sâu đục bẹ cao nhất (7,16%) và cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với các công thức thí nghiệm còn lại. Tại thời điểm 21 NSC giống OM1490 vẫn có tỷ lệ hại cao nhất (10,36%), cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với các giống lúa khác, tuy nhiên không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giống OM2395 (7,28%). Ở 35 NSC, tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ gây ra không tăng mà có xu hướng giảm do một số chồi hại bị tiêu biến đi, một số chồi mới xuất hiện và không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các công thức. Bảng 1. Tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ trên các giống lúa khác nhau (Viện Lúa ĐBSCL, Hè Thu 2009) TT Nghiệm thức Tỷ lệ chồi bị hại ở các thời điểm quan sát (%) 7 NSC 14 NSC 21 NSC 28 NSC 35 NSC 1 OM1490 2,56 a 7,16 a 10,36 a 7,71 a 5,48 a 2 Tài nguyên ĐB 1,50 ab 4,05 b 6,71 b 7,90 a 8,95 a 3 OM4498 0,61 b 2,83 b 5,78 b 7,22 a 5,13 a 4 OM2517 0,48 b 4,02 b 6,21 b 9,03 a 5,02 a 5 OM2395 1,54 ab 2,83 b 7,28 ab 9,10 a 8,58 a 6 OM576 0,93 ab 3,68 b 5,15 b 6,32 a 8,39 a 7 Jasmine 85 0,53 b 2,14 b 5,29 b 8,12 a 6,37 a CV (%) 81,9 31,2 30,2 33,5 39,4 Ghi chú: Trong cùng một cột, các số có cùng chữ theo sau không khác biệt ở mức ý nghĩa 5% qua phép kiểm định Duncan; NSC: Ngày sau cấy. 978 Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất Thí nghiệm được lặp lại ở vụ Đông Xuân , kết quả thí nghiệm cho thấy vào 7 NSC trên lúa đã xuất hiện sự gây hại của sâu phao đục bẹ và chúng tiếp tục gây hại cho tới 35 NSC. Sau khi cấy 14 ngày, giống lúa OM1490 có tỷ lệ chồi bị hại cao nhất (6,9%), kế đến là OM2395 (6,3%), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ chồi bị hại của giống lúa DS20, OM6162 và không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với Jasmine 85, OM4498 và Tài nguyên ĐB. Tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ gây ra tăng cao ở 21 NSC (đạt 5,2% đến 8,2%), tuy nhiên, không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các công thức. Ở 28 và 35 NSC, tỷ lệ chồi bị hại giảm dần ở tất cả các công thức thí nghiệm. Từ kết quả thí nghiệm của hai vụ lúa trên cho thấy giống lúa OM1490 có tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ gây ra cao nhất, kế đến là OM2395, giống lúa có tỷ lệ chồi hại thấp hơn là DS20, OM6162, Jasmine 85, Ảnh hưởng của sự tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước khác nhau đối với sâu phao đục bẹ hại lúa Mật số sâu phao đục bẹ ở các thời điểm quan sát Kết quả thí nghiệm ở vụ Đông Xuân cho thấy, sâu phao đục bẹ xuất hiện trên đồng ruộng với mật số cao nhất ở 17 NSC, giảm dần ở 24 NSC và không còn xuất hiện ở 31 NSC (bảng 2). Vào 17 NSC, ở mực nước thấp nhất (1/6 cây lúa) có mật số sâu phao đục bẹ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với mật số sâu ở mực nước 1/3 và 1/2 chiều cao cây lúa (tương ứng với 2,42; 10,17 và 10,10 con/m 2 ). Mức phân đạm khác nhau cũng ảnh hưởng đến mật số sâu phao đục bẹ hại lúa, đối với mực nước ngập 1/3 cây lúa thì mật số sâu phao đục bẹ ở công thức bón phân 60kg N/ha thấp nhất (6,7 con/m 2 ), kế đến là công thức bón đạm với mức 80kg N/ha (9,3 con/m 2 ) và thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với mật số sâu phao đục bẹ ở công thức bón đạm với mức 120kg N/ha. Sự tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước có ảnh hưởng đến biến động mật số sâu phao đục bẹ hại lúa vào 17 NSC và khác biệt về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Bảng 2. Ảnh hưởng tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước đối với mật số sâu phao đục bẹ vào 17 NSC (Viện Lúa ĐBSCL, Đông Xuân ). Mức phân đạm (P) Mực nước (N) N1 (1/6 chiều cao cây lúa) Mật số sâu phao đục bẹ (con/m 2 ) N2 (1/3 chiều cao cây lúa) N3 (1/2 chiều cao cây lúa) P1 (60kg N) 2,3 a 6,7 c 10,0 a 6,3 c P2 (80kg N) 2,3 a 9,3 b 9,3 a 7,0 bc P3 (100kg N) 2,3 a 11,7 ab 9,7 a 7,9 ab P4 (120kg N) 2,7 a 13,0 a 11,7 a 9,1 a TB-N 2,42 b 10,17 a 10,10 a F (N) = ** CV ( a ) = 39,0 F (P) = ** CV ( b ) = 19,2 F (PxN) = * Ghi chú: *: Khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5%; **: Khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1%. TB-P Kết quả ghi nhận ở 24 NSC cũng cho thấy mực nước trên đồng ruộng ảnh hưởng rất rõ tới mật số sâu phao đục bẹ gây hại trên ruộng lúa và sự tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước cũng ảnh hưởng đến biến động mật số sâu phao đục bẹ hại lúa vào 24 NSC nhưng mật số sâu phao đục bẹ thấp hơn ở 17 NSC do sâu chui vào gây hại bên trong bẹ lúa. Trong điều kiện ruộng có mực nước 1/6 hoặc 1/3 chiều cao cây lúa đồng thời bón 60kg N/ha hoặc 80kg N/ha có mật số sâu phao đục bẹ thấp hơn so với công thức bón kg N/ha Tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ ở các thời điểm quan sát Kết quả thí nghiệm cho thấy có sự xuất hiện chồi bị hại do SPĐB vào 17 NSC nhưng với tỷ lệ thấp: 1,26%; 3,29% và 5,41% tương ứng với 3 979 mực nước 1/6, 1/3 và 1/2 chiều cao cây lúa. Đến 24 NSC, tỷ lệ chồi bị hại do SPĐB tăng cao và hai công thức ngập nước 1/6 và 1/3 cây lúa có tỷ lệ chồi bị hại thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với công thức ngập nước 1/2 chiều cao cây lúa (bảng 3). Ở mực nước 1/3 chiều cao cây lúa thì công thức có mức phân đạm là 60kg N/ha có tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ thấp nhất (3,88%) và thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với 2 công thức bón với mức phân 100kg N/ha và 120kg N/ha; công thức bón với mức phân 80kg N/ha cũng có tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ tương đối thấp (5,65%) và không khác biệt có ý nghĩa so với tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ của công thức bón với mức phân 60kg N/ha. Tuy nhiên, sự tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước ảnh hưởng đến tỷ lệ chồi lúa bị hại do sâu phao đục bẹ vào thời điểm này không khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả quan sát ở 31 và 38 NSC cho thấy tỷ lệ chồi bị hại do SPĐB giảm dần do sự nảy chồi của cây lúa và sự tiêu biến của các chồi bị hại. Kết quả thí nghiệm thể hiện trên bảng 3 cho thấy mặc dù đối với mực nước N3 có tỷ lệ chồi bị hại cao hơn hai mực nước N1 và N2 nhưng năng suất của ba công thức này không khác biệt về mặt thống kê. Điều này có thể do sâu phao đục bẹ xuất hiện và gây hại sớm (17 NSC) nên cây lúa có thể đền bù và tỷ lệ chồi bị hại không cao đến mức gây thất thu về năng suất. Bảng 3. Ảnh hưởng tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước đối với tỷ lệ chồi bị hại do sâu phao đục bẹ vào 24 NSC (Viện Lúa ĐBSCL, Đông Xuân ) Mức phân đạm (P) Mực nước (N) N1 (1/6 chiều cao cây lúa) Tỷ lệ chồi bị hại (%) N2 (1/3 chiều cao cây lúa) N3 (1/2 chiều cao cây lúa) P1 (60kg N) 4,18 a 3,88 c 7,87 a 5,31 b P2 (80kg N) 4,18 a 5,65 bc 9,24 a 6,36 b P3 (100kg N) 5,97 a 6,66 ab 9,65 a 7,43 a P4 (120kg N) 6,14 a 8,22 a 9,77 a 8,04 a TB-N 5,12 b 6,1 b 9,13 a F (N) = ** CV (a) = 15,0 F (P) = ** CV (b) = 15,8 F (PxN) = ns Ghi chú: ns: Không khác biệt có ý nghĩa thống kê; **: Khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1%. TB-P Tuy nhiên, bón phân với các mức phân đạm khác nhau có ảnh hưởng đến năng suất lúa. Năng suất của công thức bón 120kg N/ha và 100kg N/ha cao hơn có ý nghĩa thống kê so với năng suất của công thức bón 80kg N/ha và 60kg N/ha. Sự tương tác giữa các mức phân đạm và mực nước không ảnh hưởng đến năng suấ
Related Search
Similar documents
View more...
We Need Your Support
Thank you for visiting our website and your interest in our free products and services. We are nonprofit website to share and download documents. To the running of this website, we need your help to support us.

Thanks to everyone for your continued support.

No, Thanks