ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU HẠI, THIÊN ĐỊCH VÀ RUỒI ĐỤC TRÁI TRÊN CÂY THANH LONG TẠI TỈNH LONG AN - PDF

Description
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU HẠI, THIÊN ĐỊCH VÀ RUỒI ĐỤC TRÁI TRÊN CÂY THANH LONG TẠI TỈNH LONG AN ABSTRACT Lê Thị Điểu 1 và Nguyễn Văn Huỳnh 2 Studies were conducted at Chau Thanh district (Long An province)

Please download to get full document.

View again

of 10
All materials on our website are shared by users. If you have any questions about copyright issues, please report us to resolve them. We are always happy to assist you.
Information
Category:

Internet & Technology

Publish on:

Views: 32 | Pages: 10

Extension: PDF | Download: 0

Share
Transcript
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU HẠI, THIÊN ĐỊCH VÀ RUỒI ĐỤC TRÁI TRÊN CÂY THANH LONG TẠI TỈNH LONG AN ABSTRACT Lê Thị Điểu 1 và Nguyễn Văn Huỳnh 2 Studies were conducted at Chau Thanh district (Long An province) from March 2006 to June 2007 in order to investigate on the species composition of insect pests, natural enemies and especially the fruitflies in the Dragon Fruit gardens by (1) interviewed farmers on the current status of cultural practices and control of pests and diseases and (2) surveyed the species composition and importance of insect pests, natural enemies and, especially, the fruitflies in farmers fields. Results of the farmers interview by questionaires (n=100) showed that majority are small farmers of less than 5000 sqm. area, used a high number of pesticides (18 insecticides and 16 fungicides) and, sometimes, applied up to 6-10 sprays per fruit season. The farmers fields survey revealed a total number of 91 insect species, belong to 47 families of 10 orders of insects and one order of spiders, of which 50 were insect pests, 37 natural enemies, and four anonymous in their roles. There were six species of fruitflies recorded by pheromone traps but only Bactrocera dorsalis and B. correcta attacked the ripened fruits, of which B. dorsalis is the most more common species. Keywords: Dragon fruit, species composition, insect pests, natural enemies, fruitflies, Bactrocera dorsalis, B. correcta Title: Surveys on the species composition of insect pests, natural enemies and fruitflies on the Dragon fruit trees at Long An province TÓM TẮT Các nghiên cứu được tiến hành tại huyện Châu Thành (Long An) từ tháng 3/2006 đến tháng 6/2007 nhằm mục đích xác định thành phần loài, thiên địch và đặc biệt là ruồi đục trái trên cây thanh long bằng cách (1) điều tra nông dân bằng phiếu câu hỏi (n=100) ở cấp nông hộ về hiện trạng canh tác và sâu bệnh gây hại cùng biện pháp phòng trừ và (2) điều tra trực tiếp và định kỳ trên vườn thanh long về thành phần loài và tầm quan trọng của, thiên địch và đặc biệt là ruồi đục trái. Kết quả điều tra cho thấy phần lớn nông dân có diện tích trồng là m 2, đa số sử dụng rất nhiều loại thuốc trừ sâu bệnh (với 18 loại thuốc sâu và 16 loại thuốc trừ bệnh) với số lần phun thuốc có khi lên đến 6-10 lần trong một đợt trái. Về thành phần loài côn trùng trên cây thanh long, đã phát hiện được 91 loài thuộc 10 bộ côn trùng và một bộ nhện với tất cả là 47 họ, trong đó có 50 loài gây hại, 37 loài thiên địch và 4 loài chưa xác định rõ vai trò. Có sáu loài ruồi đục trái đã được ghi nhận bằng bẫy pheromone nhưng chỉ có Bactrocera dorsalis và B. correcta tấn công trái chín, trong đó B. dorsalis là loài phổ biến nhất. Từ khóa: Thanh long, thành phần loài,, thiên địch, ruồi đục trái, Bactrocera dorsalis, B. correcta 1 Trạm Bảo vệ Thực vật huyện Châu Thành (Long An) 2 Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ 1 1 MỞ ĐẦU Thanh long (Hylocereus undatus (Haw) Britt. Rose) là một trong những loại trái cây có mẫu mã và màu sắc đẹp, thành phần dinh dưỡng cao, vị ngọt, ăn mát và bổ dưỡng nên rất được ưa chuộng trên thị trường trong và ngoài nước. Có thể nói thanh long là loại trái cây chiếm vị trí xuất khẩu hàng đầu ở nước ta trong nhiều năm qua, do đó thanh long đã và đang được trồng ở nhiều nơi trong cả nước, nhiều nhất là ở các tỉnh Bình Thuận, Tiền Giang và Long An. Với phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, từ nhiều năm qua huyện Châu Thành là đơn vị đi đầu của tỉnh Long An trong việc đưa cây thanh long vào trồng thay thế trên vùng đất gò cấy lúa có năng suất thấp, và tận dụng đất vườn đến nay đã trồng được khoảng ha, tập trung chủ yếu ở các xã Long Trì, Dương Xuân Hội và An Lục Long. Do hiệu quả kinh tế của thanh long cao gấp nhiều lần so với trồng lúa nên diện tích và sản lượng cây thanh long ngày càng gia tăng. Không chỉ trồng, thâm canh, mà nông dân còn có sáng kiến dùng đèn thắp sáng ban đêm để cho thanh long ra quả trái vụ, cho năng suất càng cao. Cùng với việc gia tăng diện tích, thâm canh, tăng vụ, tình hình sâu bệnh trên cây thanh long ngày càng trở nên phức tạp hơn mà trong thời gian qua việc nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu bệnh vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu về và thiên địch của chúng là rất cần thiết để xây dựng mô hình phòng trừ tổng hợp (IPM) trên cây thanh long nhằm giúp nhà vườn có thể sản xuất trái thanh long sạch cho thị trường, đặc biệt là cho xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Với những yêu cầu cấp thiết trên, đề tài nghiên cứu này đã được thực hiện tại huyên Châu Thành, tỉnh Long An trong thời gian từ tháng 3/2006 đến tháng 6/ PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Điều tra thành phần loài của và thiên địch trên cây thanh long Hiện trạng canh tác và biện pháp phòng trừ của nông dân tại huyện Châu Thành (Long An) được thực hiện theo phương pháp phỏng vấn kết hợp với phiếu điều tra có nội dung soạn thảo trước, gồm 100 phiếu điều tra phân bố tại các hộ trồng thanh long trong huyện. Các chỉ tiêu theo dõi gồm có diện tích trồng thanh long, tuổi cây, giống, năng suất, kỹ thuật canh tác của nông dân như làm đất, bón phân, tỉa cành, tưới nước, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Các loài và mức độ trầm trọng của chúng được ghi nhận theo ý kiến của nông dân và rồi đi quan sát thực tế trong vườn thanh long ngay sau khi phỏng vấn. Phương pháp điều tra được tiến hành theo Nguyễn Công Thuật (1997): chọn 30 vườn ở các xã trong huyện có diện tích thanh long nhiều và tập trung nhất, mỗi vườn có diện tích trên m 2 và có tính chất đại diện cho vùng điều tra. Từ các vườn đã chọn, tiến hành điều tra theo phương pháp tịnh tiến không lặp lại. Mỗi vườn chọn 5 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 1 trụ thanh long, trên mỗi trụ quan sát 12 cành, hoa, trái ở 4 hướng khác nhau để ghi nhận và lấy mẫu 2 côn trùng. Lịch điều tra là 10 ngày/lần và chỉ tiêu theo dõi gồm: mật số hay thiên địch (con), tần số xuất hiện (%), tỉ lệ và chỉ số gây hại (%) của. Đối với côn trùng ký sinh, thu thập trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành của các loài bị ký sinh để đem về nuôi trong phòng thí nghiệm và theo dõi cho đến khi trưởng thành của ký sinh vũ hóa bay ra để giữ mẫu cho phân loại và đánh giá khả năng ký sinh của thiên địch. Công tác phân loại côn trùng và nhện được thực hiện dựa theo các tài liệu tham khảo như CSIRO (1974), Borror et al. (1981), Inoue và et al. (1973), Shepard et al. (1999), Barion và Litsinger (1995), Nguyễn Văn Huỳnh (2002) và cập nhật thông tin bằng Google.com trên Internet. Về ruồi đục trái, có tham khảo tài liệu của Nguyễn Ngọc Thùy (1998), Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) và Lê Quốc Điền et al. (2005). 2.2 Điều tra thành phần loài, diễn tiến mật số và mức độ gây hại của ruồi đục trái thanh long Chọn 7 vườn thanh long ở trong huyện với các đặc điểm như: (1) xung quanh có trồng cây họ Cucurbitaceae như khổ qua, bầu, bí, mướp, (2) xung quanh có trồng ổi hoặc (3) xoài, (4) thanh long trồng bằng trụ sống có chăm sóc tốt hay (5) ít chăm sóc, (6) trồng bằng trụ xi măng có chăm sóc tốt hay (7) ít chăm sóc. Tại mỗi vườn điều tra 5 trụ thanh long theo kiểu tịnh tiến không lặp lại, mỗi trụ theo dõi 8 trái ở 4 hướng khác nhau vào thời điểm cây đã đậu trái để quan sát và theo dõi thời gian xuất hiện và gây hại của ruồi đục trái. Định kỳ điều tra 10 ngày/lần, đồng thời cũng tiến hành điều tra bổ sung thêm ở một số vườn vào một số thời điểm khác khi cần thiết. Chỉ tiêu theo dõi là tỉ lệ trái bị hại (TLTBH) (%) = (Tổng số trái bị hại/tổng số trái điều tra) x 100. Tiến hành thu mẫu trái trong vườn điều tra nói trên theo 3 đợt (đầu vụ, giữa vụ và cuối vụ), mỗi đợt thu 140 trái ngẫu nhiên từ các vườn điều tra (mỗi vườn 20 trái) để khảo sát tỉ lệ trái bị hại và thành phần, mật số, tần số xuất hiện, tỉ lệ hiện diện của ruồi đục trái. Đặt bẫy dẫn dụ ruồi bằng bẫy Steiner với 2 loại chất dẫn dụ là methyl eugenol (ME) và cue-lure (CUE) để xác định thời điểm bắt đầu xuất hiện và thành phần loài của ruồi đục trái. Số lượng ruồi đục trái vào bẫy được ghi nhận 7 ngày/lần. 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần và thiên địch trên cây thanh long ở huyện Châu Thành (Long An) Hiện trạng canh tác Kết quả điều tra nông dân cho thấy toàn huyện có khoảng ha, với phần lớn có diện tích m 2 /hộ (45%) và tuổi cây từ 5-10 năm (60%). Giống thanh long chủ yếu là vỏ đỏ ruột trắng thuộc loài Hylocereus undatus (Cactaceae). Trước đây nông dân trồng chủ yếu bằng cây trụ sống (62%), gần đây đang chuyển dần sang sử dụng trụ bằng xi măng để tiện việc xông đèn cho ra quả trái vụ. Có 49% số hộ điều tra có xông đèn, tập trung chủ yếu ở xã Dương Xuân Hội. Hầu hết nông 3 dân đều có sử dụng phân bón gốc (4-10 lần/năm) và phun qua lá (4-6 lần cho mỗi đợt trái). Về phòng trừ sâu bệnh, có đến 88% số hộ sử dụng thuốc để trừ sâu bệnh. Có 18 loại thuốc trừ sâu được nông dân sử dụng (đa số thuộc nhóm độc 2), trong đó các loại thường dùng là Regent 800WG và Fastac 5EC, chủ yếu sử dụng để phòng trị kiến và các loại sâu, chỉ có 1% số hộ điều tra sử dụng thuốc trừ sâu sinh học. Khoảng 16 loại thuốc trừ bệnh được nông dân sử dụng (đều thuộc nhóm độc 3 và 4), trong đó chủ yếu nhất là Rovral 50WP (35%) dùng để phòng trị bệnh trên trái do nấm. Số lần phun thuốc có thể lên đến 6-10 lần/đợt trái Thành phần loài và thiên địch Kết quả điều tra trong năm 2006 đã ghi nhận được tất cả là 95 loài, trong đó có 53 loài, 38 loài thiên địch và 4 loài chưa xác định rõ vai trò. Các loài tập trung ở 6 bộ côn trùng với tổng cộng là 19 họ, trong đó có 13 loài thuộc 5 họ của bộ Hemiptera, 10 loài thuộc 8 họ của bộ Homoptera, 6 loài thuộc 1 họ của bộ Diptera, 13 loài thuộc 1 họ của bộ Hymenoptera, 8 loài thuộc 3 họ của bộ Lepidoptera và 2 loài thuộc 1 họ của bộ Coleoptera (Bảng 1). Bảng 1: Một số loài phổ biến điều tra được trên cây thanh long tại huyện Châu Thành (Long An), 2006 Tên thông thường Ruồi đục trái 1 Ruồi đục trái 2 Bọ xít chích trái Tên khoa học Bactrocera dorsalis (Hendel) (Tephritiidae, Diptera) Bactrocera correcta (Bezzi) (Tephritiidae, Diptera) Amblypelta sp. (Coreidae, Hemiptera) Bọ xít nâu đùi to Mictis longicornis Westwood (Coreidae, Hemiptera) Bọ xít nâu sọc đỏ Physomerus grossipes Fabricius (Coreidae, Hemiptera) Bọ xít nâu lợt nhỏ Cletus sp. (Coreidae, Hemiptera) Bọ xít nâu 5 cạnh Megymenum sp. (Dinidoridae, Hemiptera) Bọ xít xanh Sâu róm sừng Nezara viridula (L.) (Pentatomidae, Hemiptera) Dasychira sp. (Lymantriidae, Lepidoptera) (Noctuidae, Lepidoptera) Nơi tấn công trên cây Mức độ phổ biến Trái Trái ++ Cành, trái ++ Cành, trái + Cành, trái ++ Cành, hoa, trái ++ Cành, trái ++ Nụ, hoa, trái Nụ, hoa, trái i 4 (Sintominae, Arctidae, Lepidoptera) (Arctidae, Lepidoptera) Ngâu Kiến đen nhanh Kiến đen lớn Kiến đen vừa Kiến đỏ nhỏ Kiến rất nhỏ Kiến lữa Kiến lữa nhỏ Kiến riện đỏ Kiến riện vàng Pseudococcus sp. (Pseudococcidae, Homoptera) Aonidiella sp. (Diaspididae, Homoptera) (Dictyopharidae, Homoptera) Ricania sp. (Ricaniidae, Homoptera) Protaetia sp. (Scarabaeidae, Coleoptra) Paratrechina longicornis (Latrteille) (Formicinae, Formicidae, Hym.) Pheidole sp. Mesosoma sp. Carebara sp. Crematogaster sp. Solenopsis geminata Fabricius Monomorium sp. Cardiocondyla wroughtonii (Forel) Tapinoma melanocephala (F.) (Dolichoderinae, Formicidae, Hym.) Kiến đen đít nhọn Technomyrmex albipes (F.) (Dolichoderinae, Formicidae, Hym.) Cành, hoa, trái Ghi chú: + = Ít xuất hiện ( 25%), ++ = xuất hiện trung bình (25-50%), = xuất hiện phổ biến (51-75%), + = xuất hiện rất phổ biến ( 75%), Cđd: Chưa định danh Mặc dù thành phần loài khá phong phú, nhưng nhìn chung mật số các loài này đều thấp, xuất hiện rải rác và không gây hại đáng kể trong quá trình điều tra. Các loài đáng chú ý là ruồi đục trái với hai loài chính là Bactrocera dorsalis và B. correcta, nhiều loài bọ xít chích hút hoa trái non với đặc biệt là bọ xít xanh Nezara viridula, bọ xít dài Amblypelta sp. và bọ xít nâu sọc đỏ Physomerus grossipes, nhiều loài sâu ăn lá và kiến cộng sinh với. 5 Các loài thiên địch ghi nhận được gồm 8 bộ với 22 họ côn trùng và 1 bộ nhện với 4 họ. Trong đó có 11 loài thuộc 8 họ của bộ Hymenoptera, 6 loài thuộc 3 họ của bộ Coleoptera, 4 loài thuộc 4 họ của bộ Diptera, 3 loài thuộc 1 họ của bộ Hemiptera, mỗi bộ Odonata và Orthoptera đều có 2 loài thuộc 2 họ, riêng bộ Mantodea và Neuroptera mỗi bộ chỉ có 1 loài. Bộ nhện Arachnida có 4 họ với 7 loài. Trong số các loài thiên địch, phong phú nhất là nhóm bọ xít bắt mồi với 3 loài là Abdrallus spinidens, Eocanthecona furcellata và Eocanthecona sp., nhện với 7 loài trong đó có Oxyopes javanus, Phintella versicolor và Argiope spp. là phổ biến nhất. Đối với thiên địch thuộc nhóm ký sinh, điều tra được 10 loài, nhưng phần lớn chưa định danh được đến loài, trong đó là các loài ong nhỏ thuộc các họ Eulophidae và Pteromalidae ký sinh trên các ổ trứng sâu và bọ xít chích trái Amblypelta sp. Bảng 2: Thành phần loài thiên địch điều tra được trên cây thanh long tại huyện Châu Thành (Long An), 2006 Tên thông thường Tên khoa học Ký chủ Mức độ phổ biến 1 Ong ký sinh sâu róm 2 Ong ký sinh trứng bọ xít 3 Ong ký sinh lớn, đen, dài 4 Ong lá (ong bần) Cotesia (Apanteles) sp. (Braconidae, Hymenoptera) Anastatus bifaciatus (Geoffroy) (Eupelmidae, Hymenopera) Pelecinus sp. (Pelecinidae, Hymenoptera) Polistes sp. (Polistinae, Vespidae, Hymenoptera) 5 Kiến vàng Oecophylla smaragdina (F.) (Formicidae, Hymenoptera) 6 Bọ xít ăn sâu Abdrallus spinidens (Fabricius) (Pentatomidae, Hemiptera) 7 Bọ xít ăn sâu Eocanthecona furcelata (Wolff) (Pentatomidae, Hemiptera) 8 Bọ xít ăn sâu Eocanthecona sp. (Pentatomidae, Hemiptera) 9 Ruồi cao chân Chrysosoma sp. (Dolichopodidae, Diptera) 10 Ruồi ký sinh Palexorista sp. (Tachinidae, Diptera) 11 Ruồi ăn cướp Loài cđd 6 (Asilidae, Diptera) 12 Ruồi ăn rầy mềm Ischiodon scutellaris (F.) (Syrphidae, Diptera) 13 Bọ rùa vằn Harmonia octomaculata F. (Coccinellidae, Coleoptra) Đa ký chủ + Trứng Đa ký chủ Đa thực Rầy mềm + + 6 14 Bọ rùa chữ nhân Coccinella tranvesalis F. (Coccinellidae, Coleoptra) 15 Bọ rùa đỏ Micraspis discolor (F.) (Coccinellidae, Coleoptra) 16 Bọ rùa đen Scymnus sp. (Coccinellidae, Coleoptra) 17 Kiến ba khoang Ophionea interstitialis Schmidt-Goebel (Carabidae, Coleoptera) 18 Kiến 3khoang đuôi nhọn Paederus fuscipes Curtis (Staphylinidae, Coleoptera) 19 Dế nhảy đen Metioche sp. (Gryllidae, Orthoptera) 20 Vạt sành (muồm muỗm) Conocephalus longipennis (DeHaan) (Tettigonidae, Orthoptera) 21 Chuồn chuồn cỏ Chrysopa sp. (bọ cánh lưới) (Chrysopidae, Neuroptera) 22 Nhện chân gai Oxyopes javanus Thorell (Oxyopidae, Arachnida) 23 Nhện nhảy lớn (linh miêu) Hyllus mascaranus Barion & Litsinger (Salticidae, Arachnida) Trứng + Trứng + Đa thực Ghi chú: + = Ít xuất hiện ( 25%), ++ = xuất hiện trung bình (25-50%), = xuất hiện phổ biến (51-75%), + = xuất hiện rất phổ biến ( 75%); Cđd: Chưa định danh. Do khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo nên không thể mô tả đặc điểm của các loài chưa định danh được, có thể tham khảo luận án Thạc sĩ Nông học của Lê Thị Điểu (2007) tại Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh. 3.2 Thành phần loài và khả năng gây hại của ruồi đục trái thanh long Qua theo dõi ruồi đục trái bằng bẫy pheromone, kết quả trình bày ở Hình 1 cho thấy ruồi đục trái hiện diện trên các vườn thanh long ở huyện Châu Thành (Long An) gần như là trong suốt vụ với mật số khá cao. Vào các thời điểm mà mật số của ruồi đục trái ở bẫy ME đạt đỉnh cao cũng là giai đoạn của các vườn cây thanh long đang mang trái chín. Mật số ruồi đục trái bình quân trên bẫy CUE thấp hơn trên bẫy ME và các đỉnh cao của bẫy CUE cũng không trùng vào các đỉnh cao của bẫy ME là do khả năng dẫn dụ của mỗi loại pheromone có khác. Con/bẫy Bẫy ME Bẫy CUE /06/06 24/06/06 01/07/06 08/07/06 15/07/06 22/07/06 29/07/06 05/08/06 12/08/06 19/08/06 26/08/06 02/09/06 09/09/06 16/09/06 23/09/06 30/09/06 Ngày thu bẫy Hình 1: Diễn tiến mật số của ruồi đục trái vào bẫy ME và CUE ở vườn thanh long tại huyện Châu Thành (Long An) trong một vụ trái (17/6-30/9/2006) 7 Về thành phần loài ruồi đục trái, bẫy ME thu được 2 loài là Bactrocera dorsalis và B. correcta (Hình 2a). Ở đầu vụ, mật số trung bình của loài B. correcta cao hơn với đỉnh cao là 35 con/bẫy, tuy nhiên ở cuối vụ thì mật số của loài B. dorsalis cao hơn với đỉnh cao là 41 con/bẫy. Tần số xuất hiện của B. correcta là 100% tuy nhiên tỉ lệ hiện diện chỉ 31%, còn tần số xuất hiện của B. dorsalis là 94% nhưng tỉ lệ hiện diện đến 69%. Ngược lại, bẫy CUE thu được 4 loài khác là Bactrocera cucurbitae (Coquillet), Bactrocera hochii (Zia), Bactrocera tau (Walker) và Dacus longico
Related Search
Similar documents
View more...
We Need Your Support
Thank you for visiting our website and your interest in our free products and services. We are nonprofit website to share and download documents. To the running of this website, we need your help to support us.

Thanks to everyone for your continued support.

No, Thanks